Chủ nhật   16/12/2018     23:29:26
U-CRAI-NA

 TÀI LIỆU CƠ BẢN VỀ U-CRAI-NA VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM – U-CRAI-NA

 

I/ Thông tin cơ bản

- Tên nước: U-crai-na (Ukraine)

- Thủ đô: Ki-ép (2,6 triệu dân)

- Ngày Quốc khánh: 24/8/1991

- Vị trí địa lý: nằm ở Đông Nam Châu Âu, có đường biên giới với các nước: Bê-la-rút (891 km), Hung-ga-ri (103 km), Môn-đô-va (939 km), Ba Lan (526 km), Ru-ma-ni (531 km), Nga (1.576 km), Xlô-va-ki-a (97 km).

- Diện tích: 603,7 nghìn km2

- Khí hậu: chủ yếu là khí hậu ôn hòa và lục địa.

- Tài nguyên khoáng sản: giàu mangan (chiếm 40% trữ lượng thế giới), thuỷ ngân (đứng thứ 2 thế giới), quặng sắt (chiếm 12% trữ lượng thế giới), U-ran (1,8%), Appatit (29%).

- Dân số: 45,665 triệu người (tính đến 10/2011)

- Dân tộc: U-crai-na – 73,6%, Nga – 21,1%, Do thái – 1,3%, Bê-la-rút – 0,8%, Bun-ga-ri – 0,5%

- Ngôn ngữ: Tiếng U-crai-na        

- Đơn vị tiền tệ: đồng Hryvnia (UAH). 1 USD = 8,06 UAH (tháng 6/2012)

- GDP: 164,9 tỷ USD (năm 2011)

- Thu nhập bình quân đầu người: 3621 USD/năm (năm 2011)

- Tôn giáo: chủ yếu là đạo Chính thống

- Cơ cấu hành chính: có 25 tỉnh, thành phố và nước Cộng hoà tự trị Crưm

- Lãnh đạo chủ chốt:

 + Tổng thống: Vích-to Ia-nu-cô-vích (Viktor Yanukovych), bầu 25/2/2010

 + Chủ tịch Quốc hội: Vla-đi-mia Lít-vin (Volodymyr Lytvyn), bầu 9/12/2008

 + Thủ tướng: N. A-da-rốp (N. Azarov), bổ nhiệm 11/3/2010

 + Bộ trưởng Ngoại giao: C. Gri-sen-cô (K. Grishenco), bổ nhiệm 11/3/2010

 

II/ KHÁI QUÁT LỊCH SỬ

Nhà nước Ki-ép cổ đại ra đời từ thế kỷ IX, nằm trong Đế quốc Nga cho tới thế kỷ XIX, sau đó trong Liên bang CHXHCN Xô viết (Liên Xô) gần suốt thế kỷ XX. U-crai-na đã bị Mông cổ, Tác-ta xâm lược (thế kỷ XIII), bị sáp nhập một phần lãnh thổ, dân cư vào những đế quốc khác như Ba Lan (thế kỷ XVI – XVIII). Ngày 10/3/1919 Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết U-crai-na ra đời, đặt thủ đô tại Khác-cốp. Ngày 30/12/1922, U-crai-na gia nhập Liên bang Xô viết. Ngày 24/6/1934, Thủ đô của U-crai-na được dời từ Khác-cốp sang Ki-ép. 

Sau khi Liên Xô tan rã, ngày 24/8/1991 U-crai-na tuyên bố độc lập.

 

III/ THỂ CHẾ NHÀ NƯỚC, CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ, ĐẢNG PHÁI CHÍNHTRỊ

- Hiến pháp đầu tiên được thông qua năm 1996 và được sửa đổi vào các năm 2004 và 2010.

- Thể chế chính trị: Tổng thống - Nghị viện.

+ Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước, do dân bầu nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống được quyền chỉ định ứng cử viên Thủ tướng để Quốc hội thông qua, cũng như bổ nhiệm người đứng đầu chính quyền tất cả các tỉnh và khu vực. 

+ Cơ quan lập pháp tối cao là Hội đồng tối cao (Verkhovna Rada) 1 viện gồm 450 đại biểu, do dân bầu, nhiệm kỳ 5 năm. Từ năm 2012 bầu cử quốc hội U-crai-na sẽ diễn ra theo phương thức hỗn hợp với 50% số ghế được bầu theo danh sách đảng và 50% số ghế được bầu theo danh sách ứng cử viên ở một đơn vị bầu cử. Lần bầu cử Quốc hội gần đây nhất (khóa VI) là tháng 9/2007.

+ Chính phủ là cơ quan hành pháp tối cao. Thủ tướng được Tổng thống chỉ định và Quốc hội thông qua. Tổng thống theo kiến nghị của Thủ tướng bổ nhiệm thành viên Nội các và Lãnh đạo các cơ quan hành pháp Trung ương. 

- Đảng phái chính trị: U-crai-na theo hệ thống đa đảng. Có 173 đảng chính trị đăng ký hoạt động tại U-crai-na, trong đó có 16 đảng chính trị có Đảng viên là đại biểu tại Quốc hội U-crai-na khóa VI, liên kết thành các Khối:

+ Đảng Khu vực – 193 đại biểu;

+ Khối BIUT (bao gồm Đảng dân chủ xã hội U-crai-na, Đảng cải cách và trật tự, Liên hiệp toàn U-crai-na) – 103 đại biểu;

+ Khối NU – NS (gồm Liên minh Nhân dân U-crai-na, Đảng Nhân dân U-crai-na, Đảng Cộng hòa U-crai-na “Tập hợp”, Liên minh Dân chủ - Thiên chúa giáo, Đảng Châu Âu U-crai-na…) – 66 đại biểu;

+ Đảng Cộng sản U-crai-na – 25 đại biểu;

+ Khối Lít-vin – 20 đại biểu.

+ Đảng Cải cách vì tương lai - 20 ghế.

 

 Tình hình chính trị

Trong những năm đầu thế kỷ XXI, tình hình chính trị nội bộ U-crai-na có những biến động lớn, đặc biệt từ sau cuộc bầu cử Tổng thống (31/10/2004), U-crai-na rơi vào khủng hoảng chính trị triền miên: Chính phủ liên tục thay đổi nhân sự với 5 đời Thủ tướng: I. Ti-mô-sen-cô, đồng minh thân cận của Tổng thống V.Iu-sen-cô trong cuộc “cách mạng Cam” (từ tháng 1 đến tháng 9/2005), I.E-kha-nu-rốp (từ tháng 9/2005 đến tháng 8/2006), V.Ia-nu-cô-vích, đối thủ chính của Tổng thống V.Iu-sen-cô trong cuộc bầu cử Tổng thống 2004 (từ tháng 8/2006 đến tháng 12/2007), I. Ti-mô-sen-cô (từ tháng 12/2007 đến 3/2010) và N. A-da-rốp (từ tháng 3/2010 đến nay).

Sau cuộc bầu cử Quốc hội ngày 26/3/2006 và Hiến pháp U-crai-na được sửa đổi, có hiệu lực (từ 1/1/2006), Quốc hội U-crai-na tiếp tục rơi vào tình trạng bất ổn: Quốc hội đã 2 lần bị giải tán, 1 lần phải tiến hành bầu cử trước thời hạn (30/9/2007), thay 3 đời Chủ tịch Quốc hội: A. Ma-rô-zơ (từ 6/7/2006 đến tháng 12/2007), A.Ia-tse-nhi-úc (từ 4/12/2007 đến tháng 12/2008), Vla-đi-mia Lít-vin (từ 6/12/2008 đến nay).

Sau khi Tổng thống V. Ia-nu-cô-vích lên cầm quyền (25/02/2010), tình hình chính trị U-crai-na dần đi vào ổn định. Chính quyền mới đã nhanh chóng triển khai các biện pháp nhằm ổn định tình hình chính trị, xã hội và kinh tế đất nước, tiến hành cải cách trên nhiều lĩnh vực. Việc thành lập liên minh đa số trong Quốc hội và Nội các mới; thiết lập trục dọc từ Trung ương đến địa phương, củng cố nhân sự chủ chốt các cơ quan Bộ, ngành là những kết quả đầu tiên có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đồng thời, ngày 01/10/2010 Tòa án Hiến pháp tuyên bố hủy bỏ sửa đổi năm 2004 trong Hiến pháp, đưa U-crai-na từ thể chế Nghị viện – Tổng thống quay lại thể chế Tổng thống – Nghị viện. Tổng thống được khôi phục lại quyền lực, giảm bớt quyền hạn của Quốc hội, Tổng thống được quyền đưa ra ứng cử viên Thủ tướng để Quốc hội thông qua, cũng như bổ nhiệm người đứng đầu chính quyền tất cả các tỉnh và khu vực. 

Năm 2011, chính quyền U-crai-na tiếp tục tiến hành cải cách sâu rộng hệ thống chính trị. Bộ máy Chính phủ được điều chỉnh đáng kể (số lượng thành viên Chính phủ giảm từ 24 người xuống còn 16 người, một số Bộ bị giải thể và một loạt Bộ được thành lập trên cơ sở sáp nhập các Bộ). Quốc hội U-crai-na đã thông qua sửa đổi Hiến pháp năm 1996, xác định nhiệm kỳ 5 năm của Cơ quan lập pháp, Tổng thống và các cơ quan chính quyền địa phương ở U-crai-na thay vì 4 năm theo Hiến pháp 1996. Học thuyết quân sự mới được thông qua xác định U-crai-na là một quốc gia trung lập, không tham gia bất kỳ khối hay liên minh quân sự nào.

   Ưu tiên của U-crai-na trong năm 2011 là cải cách khu vực tài chính, bảo hiểm hưu trí và quản lý tài sản nhà nước. Nhìn chung, quá trình cải cách vẫn chưa đem lại kết quả rõ rệt. Đời sống người dân tiếp tục khó khăn, lạm phát tăng cao, nợ lương triền miên... Trong năm 2011 liên tiếp xảy ra các cuộc mít tinh, biểu tình phản đối chính sách kinh tế - xã hội của chính quyền TTh Ia-nu-cô-vích, đòi TTh từ chức, giải tán Quốc hội, giải tán Chính phủ.

Năm 2012 Tình hình chính trị U-crai-na về cơ bản tiếp tục ổn định, tuy nhiên chính trường U-crai-na bắt đầu nóng lên khi các đảng phái chính trị tích cực chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc hội vào mùa thu năm nay. Xu hướng sáp nhập các đảng phái diễn ra sôi động. Phái đa số trong Quốc hội gồm Đảng «Khu vực», «U-crai-na hùng mạnh» sáp nhập thành một khối với mục tiêu tạo liên minh cầm quyền đa số. Các đảng phái thuộc lực lượng đối lập cũng bắt đầu kêu gọi sáp nhập. Đảng «Mặt trận cải cách» kêu gọi sáp nhập với khối «NU-NS» của cựu Tổng thống Iu-sen-cô. Các đảng phái nhỏ, khó có cơ hội để có chân trong Quốc hội tìm cách sáp nhập với Đảng «Tổ quốc» của cựu Thủ tướng Ti-mô-sen-cô.

 

IV. KINH TẾ

         Năm 2008, do tác động cộng hưởng của nền kinh tế vốn đang yếu kém và khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới, nền kinh tế U-crai-na lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Năm 2009, đồng tiền của U-crai-na đã mất giá tới 60%; tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giảm 17%. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã phải cho U-crai-na vay 16,4 tỷ USD. Chính quyền mới được thành lập của ông Ia-nu-cô-vích đã nỗ lực tìm kiếm các biện pháp cải thiện tình hình kinh tế. Kinh tế U-crai-na đang dần phục hồi sau nhiều năm trì trệ. GDP năm 2011 tăng 5,2%. Quý I/2012, GDP tăng 1,8%, sản xuất công nghiệp - 0,7%; sản xuất nông nghiệp từ tháng 01-04/2012 tăng 1,1%. Nợ công của U-crai-na tháng 2/2012 là 45 tỷ USD, tăng 237 triệu USD so với tháng 1/2012, trong đó nợ trong nước chiếm 20 tỷ USD.

Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội U-crai-na vẫn còn nhiều khó khăn: 14% dân số sống dưới mức nghèo khổ, tình trạng tội phạm, tham nhũng gia tăng, bộ máy hành chính quan liêu, cồng kềnh. Lương tối thiểu đạt 70 USD, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 250 USD/tháng.  

Về kinh tế đối ngoại: U-crai-na trở thành thành viên thứ 152 của WTO năm 2008. Hiện U-crai-na là thành viên của Không gian kinh tế thống nhất (EEP) và đã ký Hiệp định về thành lập khu vực mậu dịch tự do SNG (tháng 10/2011).

Kim ngạch xuất nhập khẩu của U-crai-na năm 2011 đạt 132,75 tỷ USD, tăng 16% so với năm 2010. Các mặt hàng nhập khẩu chính là năng lượng, máy móc, trang thiết bị, hoá chất; các mặt hàng xuất khẩu chính là kim loại màu và quặng sắt, các sản phẩm dầu khí, hoá chất, máy móc, thiết bị vận tải… Các đối tác thương mại chính của U-crai-na là Nga (24,5%), Đức, Trung Quốc, Ca-dắc-xtan, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ…

        

V. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI

U-crai-na là thành viên của 107 tổ chức quốc tế và khu vực. Trong thành phần Liên bang Xô viết, U-crai-na là một trong những thành viên sáng lập Liên hợp quốc năm 1945, được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2000-2001. U-crai-na tham gia Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG); Cộng đồng Kinh tế Á-Âu (EvrAzEC); Tổ chức An ninh và hợp tác Châu Âu (OSCE); là thành viên liên kết của Hội đồng châu Âu; Liên minh khu vực “Sáng kiến Trung Âu”; Tổ chức Hợp tác kinh tế biển Đen; Cộng đồng lựa chọn dân chủ khu vực Ban-tích - Biển Đen - Biển Caspi.

 Từ sau khi lực lượng “Cam” lên nắm quyền vào năm 2005, chính sách đối ngoại của U-crai-na ngả sang phương Tây, chủ trương đẩy mạnh tiến trình gia nhập Liên minh châu Âu (EU) và NATO, coi đó là mục tiêu chiến lược của U-crai-na. Quan hệ của U-crai-na với Nga trong giai đoạn này hết sức căng thẳng, đỉnh điểm là cuộc khủng hoảng khí đốt tháng 1/2009.

Từ tháng 2/2010, Tổng thống V. Ia-nu-cô-vích lên cầm quyền đã thực hiện chính sách đối ngoại “cân bằng Đông - Tây”, chủ trương “đứng ngoài mọi liên minh quân sự” (không gia nhập NATO), đặt mục tiêu gia nhập EU, coi việc cải thiện quan hệ và tăng cường hợp tác toàn diện với Nga là một trong những ưu tiên đối ngoại hàng đầu, chú trọng quan hệ với các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương..

Triển khai chính sách đối ngoại, U-crai-na chịu sức ép mạnh trong việc cân bằng quan hệ với Nga và EU. Nga tiếp tục gây sức ép buộc U-crai-na gia nhập Liên minh thuế quan để đổi lại Nga giảm giá bán khí đốt cho U-crai-na. U-crai-na đề xuất hợp tác với Liên minh thuế quan theo công thức “3+1”, trong khi tiếp tục mục tiêu hội nhập châu Âu, phấn đấu ký Hiệp định liên minh và thành lập khu vực thương mại tự do, tiến tới miễn thị thực với EU trong thời gian tới. U-crai-na tăng cường quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ, khẳng định Mỹ là một trong những đối tác chiến lược hàng đầu của nước này trên con đường hiện đại hóa đất nước và liên kết với châu Âu. Sau khi chính quyền TTh Ya-nu-cô-vích tuyên bố từ bỏ chủ trương gia nhập NATO, NATO vận động U-crai-na tham gia Hệ thống phòng thủ tên lửa chung châu Âu, tăng cường đối thoại chính trị và hợp tác với U-crai-na, cụ thể trong các vấn đề chống cướp biển, bảo đảm an ninh năng lượng và an ninh thông tin Internet, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và giúp U-crai-na tiến hành các cuộc cải cách.

U-crai-na triển khai mạnh hướng đối ngoại châu Á - Thái Bình Dươngthông qua các chuyến thăm cấp cao, mở ra triển vọng mới phát triển quan hệ với các nước trong khu vực, đặc biệt trong hợp tác kinh tế - thương mại, đầu tư. U-crai-na nâng quan hệ với Trung Quốc lên tầm đối tác chiến lược; coi trọng hợp tác với Nhật Bản, Xin-ga-po và Việt Nam.

 

QUAN HỆ VIỆT NAM – U-CRAI-NA

Việt Nam và U-crai-na thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 23/1/1992.

Việt Nam đã lập Đại sứ quán ở Ki-ép cuối năm 1992. U-crai-na mở Đại sứ quán ở Hà Nội đầu năm 1997.

 

I. QUAN HỆ CHÍNH TRỊ

Việt Nam và U-crai-na có quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt.

Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn các cấp, kể cả cấp cao nhất.

- Tháng 10/1993 Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thăm U-crai-na.

- Tháng 4/1994 Bộ trưởng Ngoại giao U-crai-na Dơ-len-cô thăm Việt Nam.

- Tháng 6/1994 Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm U-crai-na.

- Tháng 4/1996 Tổng thống U-crai-na Cu-trơ-ma thăm Việt Nam. Hai bên đã ký Hiệp ước về các nguyên tắc quan hệ và hợp tác giữa CH XHCN Việt Nam và U-crai-na.

- Tháng 4/2000 Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm U-crai-na. Ký Tuyên bố chung.

- 18-22/1/2003 Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thăm chính thức U-crai-na. Sau đó hai Quốc hội đã lập nhóm nghị sỹ hữu nghị.

- Tháng 6/2008, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu thăm không chính thức U-crai-na.

- Tháng 12/2010, Chủ tịch Quốc hội U-crai-na V. Lít-vin thăm Việt Nam.

- Tháng 3/2011, Tổng thống U-crai-na V. Ia-nu-cô-vích thăm chính thức Việt Nam.

- Tháng 10/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức U-crai-na.

- Tháng 3/2012, Bộ trưởng Ngoại giao U-crai-na Grư-sen-cô thăm chính thức Việt Nam.

Hợp tác trên các diễn đàn quốc tế:

Việt Nam và U-crai-na phối hợp chặt chẽ và thường xuyên ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn và tổ chức quốc tế, trong đó có Liên hợp quốc. U-crai-na ủng hộ Việt Nam trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009. Việt Nam đã ủng hộ U-crai-na trở thành quan sát viên của Cộng đồng Pháp ngữ, tái ứng cử vào Hội đồng nhân quyền. Hai bên đều công nhận lẫn nhau là nước có nền kinh tế thị trường. Ta đã ủng hộ Bạn gia nhập WTO.

 

 

II. HỢP TÁC KINH TẾ

          Hai bên đã tiến hành 12 khoá họp Ủy ban Liên Chính phủ về hợp tác kinh tế - thương mại và khoa học - kỹ thuật (khoá họp lần thứ 12 diễn ra tại Ki-ép tháng 10/2011).

1. Về thương mại: Mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, năm 2008 kim ngạch thương mại hai nước tăng đáng kể, đạt 540 triệu USD (so với 151 triệu USD năm 2007). Tuy nhiên, từ năm 2009 trở lại đây, kim ngạch lại có chiều hướng giảm sút: năm 2009 đạt 463,7 triệu USD; năm 2010 - 255,7 triệu USD. Kim ngạch thương mại hai nước năm 2011 có chiều hướng tăng trở lại đạt 299,7 triệu USD (tăng 17% so với năm 2010), 7 tháng đầu năm đạt 157 triệu USD, trong đó nhập khẩu 35,5 triệu, xuất khẩu 111,5 triệu USD.

Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam là gạo, chè, cà phê, cao su tự nhiên, thuỷ sản, hàng dệt may, giầy dép, đông dược… Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ U-crai-na là sắt thép, phân bón, máy móc thiết bị, hoá chất.

Phía U-crai-na dành cho Việt Nam chế độ tối huệ quốc trong việc cung cấp thuỷ hải sản sang U-crai-na.

          2. Hợp tác năng lượng

Hợp tác năng lượng là hướng hợp tác quan trọng được triển khai hiệu quả ở các công trình thủy điện lớn như Hoà Bình, Thác Mơ, Yaly, đường dây 500KV. Hai bên đã thoả thuận hợp  tác thực hiện các dự án năng lượng mới như thiết kế, xây mới và cải tạo nhà máy nhiệt, thuỷ điện và truyền tải điện được xây dựng với sự trợ giúp của U-crai-na và Liên xô trước đây, trong đó có Nhà máy thuỷ điện Thác Bà đang được tổ hợp “Ucrinterenergo” của U-crai-na giúp cải tạo với hợp đồng trị giá khoảng 10 triệu USD.

3. Về đầu tư: U-crai-na có 4 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư khoảng 24 triệu USD: Xí nghiệp liên doanh Bông sen - vận tải Biển (19,6 triệu USD), Công ty liên doanh chế tạo, thiết kế, thi công trạm thủy điện nhỏ (1,2 triệu USD), Xí nghiệp liên doanh chế biến các sản phẩm rau quả xuất khẩu (2,2 triệu USD), hợp tác lắp ráp xe KRAZ tại Quảng Ninh.

U-crai-na quan tâm hợp tác trong lĩnh vực đóng, sửa chữa tàu biển ở Việt Nam, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng đường sắt, đào tạo chuyên gia cho Việt Nam về vận tải biển và đường sắt, hợp tác trong lĩnh vực nghề cá.

Hiện nay, Việt Nam có 4 dự án đầu tư tại U-crai-na với tổng vốn đầu tư 27 triệu USD, phần lớn do doanh nghiệp Việt Nam đang sinh sống, làm ăn tại U-crai-na đầu tư vào các lĩnh vực chế biến thực phẩm (mì ăn liền), bao bì, carton, nhà hàng.

Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 3/2011 của Tổng thống U-crai-na, Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel và Cơ quan quản lý dự án quốc gia U-crai-na đã ký Bản ghi nhớ về thực hiện dự án Internet băng thông rộng với tổng giá trị 600 triệu USD tại U-crai-na.

4. Về tài chính, ngân hàng: Bộ Tài chính hai nước đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần ngày 8/4/1996. Tháng 3/2011, Ngân hàng nhà nước Việt Nam và U-crai-na đã ký thoả thuận hợp tác. Quan hệ thanh toán đại lý giữa các ngân hàng thương mại hai bên cũng đã được thiết lập nhằm tạo thuận lợi trong thanh toán giữa hai nước.

 

III. HỢP TÁC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Trung tâm khoa học - kỹ thuật và công nghệ quốc gia Việt Nam và Viện Hàn lâm khoa học U-crai-na đã thoả thuận lập Trung tâm chuyển giao công nghệ cao tại Việt Nam, để chuyển giao một số công nghệ của U-crai-na như: hàn dưới nước, sản xuất titan, công nghệ sinh học… Trong năm 2005 đã bắt đầu triển khai dự án chuyển giao công nghệ titan cho Việt Nam. Tháng 4/2009, Đoàn của Tập đoàn “Titan U-crai-na” đã sang Việt Nam để chuẩn bị những kiến nghị tham gia vào đấu thầu xây dựng khu liên hợp sản xuất dioxit titan tại Việt Nam.

 

IV. HỢP TÁC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

Hàng năm U-crai-na và Việt Nam cung cấp cho nhau hơn 30 suất học bổng. Hiện nay, có khoảng 1.400 sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam đang học tại U-crai-na (phần lớn học tự túc) và khoảng 25 sinh viên U-crai-na học tại các trường Đại học của Việt Nam. Hai bên đã ký Hiệp định hợp tác về giáo dục và khoa học giai đoạn 2003-2008 và Hiệp định liên Chính phủ về công nhận lẫn nhau các văn bằng giáo dục, học vị và học hàm (4/11/2004). Tháng 3/2011, hai bên đã ký Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo.

 

V. HỢP TÁC ĐỊA PHƯƠNG

Hai bên đang thúc đẩy và khuyến khích hợp tác giữa các địa phương trong đó có thoả thuận hợp tác giữa Hà Nội và Ki-ép, Thành phố Hồ Chí Minh và Khác-cốp, Khánh Hoà và Khác - cốp, Phe-ô-đô-xia và Hải Phòng. Phía U-crai-na bày tỏ mong muốn thiết lập quan hệ trực tiếp giữa khu tự trị Crưm với một tỉnh của Việt Nam. Phía Việt Nam đề nghị xem xét việc thiết lập quan hệ trực tiếp giữa Thành phố Cần Thơ của Việt Nam với một thành phố của U-crai-na.

 

VI. HỢP TÁC TRONG CÁC LĨNH VỰC KHÁC

Hợp tác du lịch: Ngày 6/4/2000 trong khuôn khổ chuyến thăm U-crai-na của Chủ tịch nước Trần Đức Lương hai bên đã ký Hiệp định hợp tác du lịch. Hai bên thoả thuận trao đổi thông tin về cơ sở pháp lý và thông tin chuyên ngành cũng như tiến hành các chương trình quảng bá du lịch. Nhiều doanh nhân Việt Nam tại U-crai-na đã đầu tư vào lĩnh vực du lịch, điển hình là khu du lịch Vinpearl Resort tại đảo Hòn Tre, Nha Trang.

Hãng hàng không Aerosvit của U-crai-na đã mở đường bay thẳng Ki-ép - thành phố Hồ Chí Minh vào cuối năm 2011.

Hai nước đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng.

 

VII. CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI U-CRAI-NA

Có khoảng 10.000 công dân Việt Nam sinh sống, làm ăn tại U-crai-na, phần lớn tập trung ở thành phố Khác-cốp (trong đó có khoảng 50 doanh nghiệp) được tập hợp thành các tổ chức như các hội người Việt Nam và hội đồng hương; có những doanh nhân làm ăn thành đạt đã đầu đầu tư về nước (khu du lịch Hòn Tre – Khánh Hoà, Siêu thị Vincom – Hà Nội). Nhìn chung, chính quyền Bạn tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng ta sinh sống, làm ăn tại U-crai-na.

 

VIII. HIỆP ĐỊNH ĐÃ KÝ KẾT        

 

Hai nước đã ký trên 20 Hiệp định về hợp tác trong nhiều lĩnh vực quan trọng như hợp tác kinh tế - thương mại, trong đó hai bên dành cho nhau quy chế tối huệ quốc, vận tải biển, vận chuyển hàng không, văn hoá, giáo dục và khoa học, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, tránh đánh thuế hai lần…

 

Tên Hiệp định

Ngày ký

Nghị định thư về việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa CHXHCNVN và Cộng hòa U-crai-na

23/01/1992

Hiệp định giữa CP CHXHCN Việt Nam và CP U-crai-na về điều kiện đi lại miễn thị thực lẫn nhau của công dân

21/10/1993

Hiệp định giữa CP CHXHCN Việt Nam và CP U-crai-na về hợp tác kỹ thuật quân sự

11/03/1994

Hiệp định giữa CP CHXHCN Việt Nam và CP U-crai-na về hợp tác văn hóa, giáo dục và khoa học

08/6/1994

Hiệp định giữa CP CHXHCN Việt Nam và CP U-crai-na về khuyến khích và bảo hộ đầu tư

08/6/1994

Hiệp định giữa CP CHXHCN Việt Nam và CP U-crai-na về hợp tác khoa học – công nghệ

08/4/1996

Hiệp định giữa CP CHXHCN Việt Nam và CP U-crai-na về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và vào tài sản

08/4/1996

Hiệp định giữa CP CHXHCN Việt Nam và CP U-crai-na về công nhận lẫn nhau các văn bằng giáo dục, học vị khoc học và học hàm

04/11/2004

Hiệp định giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và CP U-crai-na về việc nhận trở lại công dân hai nước

25/9/2007

Tuyên bố chung về phát triển hợp tác và đối tác toàn diện Việt Nam – U-crai-na

26/3/2011

Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo

26/3/2011

Thỏa thuận khung giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Bộ Chính sách nông nghiệp U-crai-na về hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp

26/3/2011

 
Data empty.

Chung cư helios Tower Vinhomes Gardenia Chung cư Goldmark City The RainBow 8X Dự án Centa Park Tân Bình Vinhomes Central Park Chung cư Century Chung cư Diamond Lotus Lake View Chung cư SSG Tower Chung cư Sunrise City Chung cư The One Sài Gòn Chung cư Centa Park Dự án Goldmark City Chung cư 87 Lĩnh Nam Chung cư 88 Láng Hạ Chung cư Cầu Diễn Chung cư Hải Đăng City Chung cư Imperia 360 Giải Phóng Chung cư Royal City Chung cư Ruby Tower Chung cư Jamona Golden Silk Vinhomes Golden River Chung cư Goldseason Chung cư Goldsilk Complex Dự án The Sun Avenue Thiết kế biệt thự ecopark Thiết kế nội thất royal city Vinhomes Gardenia Vinhomes ba son Vinhomes Gardenia Cầu Diễn Vinhomes Mễ Trì Chung cư 93 lò đúc Dự án Chung cư Goldmark City Chung cư Vista Verde Chung cư Samland Airport Chung cư gamuda the two chung cư tincom city 360 giải phóng Khu đô thị park city Chung cư tây hồ residence Chung cư golden an khánh Chung cư Mon City Căn hộ An Gia Riverside Căn hộ 8X RainBow masteri thảo điền căn hộ full house căn hộ carillon 2 tân phú Chung cư the sun avenue chung cư 283 Khương Trung Chung cư Gemek Premium Goldmark city 36 hồ tùng mậu

Chung cư an bình city giá tốt, view hồ, tiện ích hiện đại